Điểm mới trong ghi nhãn hàng hoá tại Nghị định 37/2026/NĐ-CP
Ngày 23/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 là văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh các quan hệ liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá. Ngày 23/01/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, có hiệu lực từ ngày ký ban hành và thay thế Nghị định số 132/2008/NĐ-CP (đã được sửa đổi bổ sung).
Theo quy định mới, nhãn hàng hóa cần thể hiện đầy đủ các nhóm thông tin cơ bản, bao gồm: thông tin nhận diện (tên hàng hóa, loại sản phẩm, định lượng); thành phần sản phẩm (nguyên liệu, kể cả phụ gia và thành phần định lượng khi cần thiết); thời gian sử dụng (ngày sản xuất, hạn sử dụng hoặc “best before”); hướng dẫn sử dụng, bảo quản; thông tin cảnh báo về an toàn, sức khỏe (nếu có); cùng với thông tin phục vụ truy xuất nguồn gốc như mã số, mã vạch, mã QR hoặc các phương tiện truy xuất phù hợp và quy định Nội dung bắt buộc phải ghi trên nhãn hàng hóa đối với thực phẩm theo quy định mới nhất.
Dưới đây là một số những điểm mới nổi bật:
1. Phân loại rủi ro hàng hóa để áp dụng biện pháp quản lý:
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP: Các sản phẩm, hàng hóa được phân loại theo ba mức độ rủi ro:
+ Nhóm rủi ro cao: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại lớn và khả năng xảy ra rủi ro cao, có thể gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nếu không có biện pháp quản lý phù hợp;
+ Nhóm rủi ro trung bình: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại hoặc khả năng xảy ra rủi ro ở mức trung bình, có thể gây ảnh hưởng đáng kể nếu không có biện pháp quản lý phù hợp;
+ Nhóm rủi ro thấp: sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro nguy hại nhỏ hoặc khả năng xảy ra rủi ro thấp, hầu như không gây ảnh hưởng đáng kể trong điều kiện kiểm soát hoặc sử dụng thông thường.
- Lưu ý: Các Bộ ngành sẽ ban hành Danh mục hàng hóa rủi ro trung bình và cao kèm mã HS để kiểm soát chất lượng từ ngày 01/7/2026.
2. Quy định về Nhãn phụ và Nhãn điện tử
- Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 40 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP:
+ Hình thức nhãn phụ: Nhãn phụ phải được gắn trên hàng hóa hoặc bao bì thương phẩm của hàng hóa và không được che khuất những nội dung bắt buộc của nhãn gốc theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nhãn phụ có thể được thể hiện bằng nhãn điện tử theo quy định tại Chương IV Nghị định này, nhưng phải giữ nguyên nhãn gốc của hàng hóa và phải chỉ dẫn rõ để người tiêu dùng nhận biết.
+ Nội dung nhãn phụ: Nội dung ghi trên nhãn phụ là nội dung dịch ra tiếng Việt từ các nội dung bắt buộc ghi trên nhãn gốc và bổ sung các nội dung bắt buộc khác còn thiếu theo tính chất của hàng hóa theo quy định tại Nghị định này. Tổ chức, cá nhân ghi nhãn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung ghi. Nội dung ghi trên nhãn phụ gồm cả nội dung được ghi bổ sung không làm hiểu sai nội dung trên nhãn gốc và phải phản ánh đúng bản chất và nguồn gốc của hàng hóa.
3. Trách nhiệm mới trong kinh doanh trực tuyến
- Theo quy định tại khoản 5 Điều 41 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa trên nền tảng thương mại điện tử trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm:
+ Công khai toàn bộ nội dung nhãn hàng hóa, nhãn điện tử (nếu có), trừ các thông tin có tính chất riêng biệt theo sản phẩm như: năm, tháng, ngày sản xuất; hạn sử dụng; số lô sản xuất; số khung, số máy trên nền tảng thương mại điện tử;
+ Khai báo, cập nhật chính xác thông tin hàng hóa lên hệ thống bán hàng theo quy định pháp luật về thương mại điện tử và bảo vệ người tiêu dùng;
+ Bảo đảm hàng hóa khi giao đến tay người tiêu dùng phải có nhãn hàng hóa theo đúng quy định.
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP: Tổ chức, cá nhân bán hàng có trách nhiệm:
+ Bảo đảm chất lượng hàng hóa do mình cung cấp phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng;
+ Thiết lập, vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ để duy trì chất lượng hàng hóa.
+ Cung cấp hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến chất lượng hàng hóa khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
+ Thực hiện lưu giữ hồ sơ, tài liệu liên quan đến chất lượng hàng hóa tối thiểu 03 năm kể từ thời điểm hàng hóa được đưa ra lưu thông, trừ trường hợp hàng hóa có thời hạn sử dụng dài hơn thì phải lưu giữ ít nhất bằng thời hạn sử dụng.
+ Phối hợp với cơ quan kiểm tra chất lượng, cơ quan QLTT trong việc kiểm tra, truy xuất, xử lý vi phạm về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường.
4. Hàng hóa không bắt buộc ghi nhãn thương phẩm
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP: Những loại hàng hóa sau đây không thuộc trường hợp phải ghi nhãn hàng hóa theo quy định tại Nghị định này:
+ Bất động sản.
+ Hàng hóa tạm nhập tái xuất; hàng hóa quá cảnh, hàng hóa chuyển khẩu; hàng hóa trung chuyển; hàng hóa nhập khẩu gửi kho ngoại quan để xuất khẩu sang nước thứ ba.
+ Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh; tài sản di chuyển.
+ Hàng hóa mang theo người nhập cảnh để tiêu dùng cá nhân, quà biếu, quà tặng trong định mức được miễn thuế nhập khẩu; hàng hóa nhập khẩu thuộc diện ưu đãi, miễn trừ ngoại giao theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
+ Hàng hóa bị tịch thu bán đấu giá.
+ Hàng hóa là thực phẩm tươi, sống, thực phẩm chế biến không có bao bì và bán trực tiếp cho người tiêu dùng.
+ Hàng hóa là nhiên liệu, nguyên liệu (nông sản, thủy sản, khoáng sản), phế liệu (trong sản xuất, kinh doanh), vật liệu xây dựng không có bao bì và được bán trực tiếp cho người tiêu dùng.
+ Hàng hóa đã qua sử dụng.
+ Hàng hóa là chất phóng xạ, năng lượng điện, hàng hóa sử dụng trong trường hợp khẩn cấp nhằm khắc phục thiên tai, dịch bệnh; phương tiện giao thông đường sắt, đường thủy, đường không.
- Theo quy định tại khoản 3 Điều 35 Nghị định 37/NĐ-CP: Hàng hóa là dạng rời, chất lỏng, khí, không có bao bì thương phẩm đựng trong thùng đựng hàng, hầm tàu chứa hàng, xi téc không cần ghi nhãn hàng hóa nhưng phải có hồ sơ, tài liệu kèm theo thể hiện đầy đủ các nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt theo quy định tại Nghị định này và các quy định pháp luật liên quan để thay thế cho nhãn hàng hóa.
Trường hợp hồ sơ tài liệu kèm theo bằng ngôn ngữ khác tiếng Việt, phải có bản dịch ra tiếng Việt kèm theo.
5. Quy định về nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hóa
Tại Điều 42 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hóa được quy định như sau:
(1) Nhãn hàng hóa của các loại hàng hóa đang lưu thông tại Việt Nam bắt buộc phải thể hiện các nội dung sau bằng tiếng Việt:
+ Tên hàng hóa;
+ Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa,
+ Xuất xứ hàng hóa;
+ Các nội dung bắt buộc khác phải thể hiện trên nhãn theo tính chất của mỗi loại hàng hóa quy định tại Phụ lục I trên và quy định pháp luật liên quan.
Trường hợp hàng hóa có tính chất thuộc nhiều nhóm quy định tại Phụ lục I và chưa quy định tại văn bản quy phạm pháp luật khác liên quan, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa căn cứ vào công dụng chính của hàng hóa tự xác định nhóm của hàng hóa để ghi các nội dung theo quy định tại điểm này.
(2) Nhãn gốc của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bắt buộc phải thể hiện bằng nhãn vật lý có các nội dung sau bằng tiếng nước ngoài hoặc tiếng Việt khi làm thủ tục thông quan:
(i) Tên hàng hóa;
(ii) Xuất xứ hàng hóa;
Trường hợp không xác định được xuất xứ thì ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP;
Tên nước hoặc vùng lãnh thổ xuất xứ hàng hóa trên nhãn gốc được viết tắt theo quy định tại TCVN 7217-1;
(iii) Tên đầy đủ hoặc tên viết tắt và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài;
Trường hợp trên nhãn gốc hàng hóa chưa thể hiện tên đầy đủ và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng
hóa ở nước ngoài thì các nội dung này phải thể hiện đầy đủ trong tài liệu kèm theo hàng hóa hoặc trong chứng từ của lô hàng;
Đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có nhãn gốc tiếng nước ngoài theo quy định tại các điểm (i), (ii), (iii) khoản (2), tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải thực hiện việc bổ sung nhãn hàng hóa ghi bằng tiếng Việt theo quy định trước khi đưa hàng hóa vào lưu thông tại thị thường Việt Nam.
(3) Nhãn của hàng hóa xuất khẩu được thực hiện theo quy định pháp luật của nước nhập khẩu, hợp đồng, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời tuân thủ quy định tại khoản 2 Điều 50 Nghị định số 37/2026/NĐ-CP.
(4) Trường hợp hàng hóa xuất khẩu không xuất khẩu được hoặc xuất khẩu bị trả lại nhưng đủ điều kiện để đưa ra lưu thông trên thị trường Việt Nam, nhà sản xuất phải thực hiện ghi nhãn như đối với hàng hóa sản xuất để lưu thông trong nước hoặc thực hiện ghi nhãn phụ đối với hàng hóa nhập khẩu để lưu thông trong nước theo quy định tại Nghị định số 37/2026/NĐ-CP trước khi đưa hàng hóa ra lưu thông trên thị trường.
6. Điều khoản thi hành
(1) Các quy định hết hiệu lực kể từ ngày 23/01/2026:
- Khoản 3, 6, 7 Điều 1 Nghị định số 13/2022/NĐ-CP ngày 21/01/2022 của Chính phủ.
- Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa.
- Nghị định số 111/2021/NĐ-CP ngày 09/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ.
(2) Các Nghị định, quy định hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026:
- Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
- Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ.
- Nghị định số 13/2022/NĐ-CP ngày 21/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008, Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ và Nghị định số 86/2012/NĐ-CP ngày 19/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Đo lường.
- Điều 4 Nghị định số 154/2018/NĐ-CP ngày 09/11/2018 của Chính phủ.
- Điều 2 Nghị định số 67/2009/NĐ-CP ngày 02/8/2009 của Chính phủ.
(3) Từ ngày 23/01/2026 đến hết ngày 30/6/2026 việc phân loại sản phẩm, hàng hóa thành nhóm 1, nhóm 2 và việc áp dụng các biện pháp quản lý đối với sản phẩm, hàng hóa nhóm 1, nhóm 2 tiếp tục được thực hiện theo các văn bản quy định tại khoản 2 Điều 97.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Xem chi tiết nội dung Nghị định tại đây.